Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014












Hãy cùng nhau đọc lại "Hịch Tướng sỹ" của Trần Hưng Đạo để tự hào về cha ông ta. Liệu sau sự kiện dàn khoan HD 981, 90 triệu dân VN sẽ tự hào về điều gì ?
"Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?
Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?
Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta."
Bản dịch của Huệ Chi

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Có 7 bệnh sau dùng lá lốt trị là khỏi

Thứ tư, 2014-06-04 21:03:06 - Nguồn: Internet


Có 7 bệnh sau dùng lá lốt trị là khỏi Cây lá lốt (tên khoa học là Piper lolot C. DC) thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) là một loại cây thảo sống dai thường mọc nơi ẩm ướt ở trung du, miền núi có chiều c...
Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt.
Cây lá lốt (tên khoa học là Piper lolot C. DC) thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) là một loại cây thảo sống dai thường mọc nơi ẩm ướt ở trung du, miền núi có chiều cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu.
Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10. Rễ, thân làm vị thuốc, lá dùng như một loại rau ăn hoặc làm thuốc. Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt.
Theo Đông y, lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, công dụng ôn trung (làm ấm bụng); tán hàn (trừ lạnh); hạ khí (đưa khí đi xuống); chỉ thống (giảm đau); yêu cước thống (đau lưng, đau chân), tỵ uyên (mũi chảy nước tanh thối kéo dài), trị nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu… Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá lốt đơn lẻ hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác như rễ cỏ xước, lá xương sông, rễ bưởi bung… sắc lấy nước uống hoặc ngâm tay chân để chữa các chứng đau nhức xương khớp, đau vùng ngực và bụng do lạnh; chứng ra nhiều mồ hôi tay, chân; mụn nhọt, đau đầu, đau răng… Lá lốt có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô, mỗi người chỉ nên ăn từ 50 – 100g lá lốt mỗi ngày. Gần đây một số người mắc bệnh gút (gout) đã truyền nhau kinh nghiệm ăn các món có lá lốt để điều trị căn bệnh vốn được cho là “bệnh của nhà giàu”.
Có 7 bệnh sau dùng lá lốt trị là khỏi
Lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau… Sau đây là một số tác dụng của cây lốt.
- Chữa đau nhức xương, khớp khi trời lạnh: 5-10g lá lốt phơi khô (15-30g lá tươi), sắc 2 bát nước còn ½ bát, uống trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm, nên uống sau bữa ăn tối. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước (mỗi vị 30g), tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.
- Chữa đau bụng do nhiễm lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.
- Chữa chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân: Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5-7 ngày. Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.
- Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay: 30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.
- Chữa phù thũng do suy thận: Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 500ml nước còn 150ml, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.
-Chữa mụn nhọt vỡ mủ lâu ngày không liền miệng: Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Cách làm: Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.
- Chữa đầu gối sưng đau: Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày. Hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước, mỗi vị 30g, tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.
Đặc biệt, món canh lá lốt nấu với thịt, cá là món ăn bổ dưỡng, giúp người già chống đỡ được một số bệnh tật, nhất là làm giảm đau nhức xương, khớp nhất là trong lúc giao mùa, từ mùa hại chuyển sang mùa thu.
Theo Trí Thức Trẻ

Phiên bản cache tại địa chỉ: http://www.vietgiaitri.com/song-tre/suc-khoe/2014/06/co-7-benh-sau-dung-la-lot-tri-la-khoi/

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

03:58-17/04/2014
Đổi mới nhận thức về ODA
Lê Đăng Doanh
Nghi án tham nhũng do Nhật Bản phát hiện dự án đường sắt ở công ty tư vấn JTC một lần nữa làm dấy lên sự quan tâm của công luận về những yêu cầu cấp bách đổi mới từ thể chế, bộ máy thực hiện ODA, thay đổi tư duy về ODA và ngăn chặn lạm dụng ODA cho lợi ích nhóm bất chính.
Từ năm 1993 Việt Nam đã phá vỡ được thế bao vây, cấm vận, và bắt đầu tiếp nhận  sự hỗ trợ phát triển chính thức, gọi tắt theo tiếng Anh là ODA. Đến nay sau hơn 20 năm, chúng ta đã thu hút được hơn 80 tỷ USD cam kết, giải ngân được 38 tỷ USD (hiện còn trên 20 tỷ USD chưa được giải ngân), qua đó đóng góp khoảng 30% vốn đầu tư công và đã góp phần tích cực vào cải thiện kết cấu hạ tầng và công trình phúc lợi xã hội. Song bên cạnh những lợi ích này là những mặt tiêu cực không nhỏ của vấn đề sử dụng vốn ODA, trong đó, việc Nhật Bản phát hiện vụ tham nhũng của công ty PCI với Huỳnh Ngọc Sỹ, vụ PMU 18, và vụ việc liên quan tới công ty JTC gần đây mới chỉ là những phần nổi ít ỏi được phát hiện của tảng băng chìm chưa được làm rõ.

ODA không phải khi nào cũng “ưu đãi”

Vốn ODA chủ yếu là vốn tín dụng, hoàn toàn không phải là viện trợ không hoàn lại hay “tiền chùa” như vẫn bị cố ý hiểu lầm trong một bộ phận không nhỏ cán bộ và dân chúng. Sau khi Việt Nam thoát khỏi nhóm nước thu nhập thấp, gia nhập nhóm thấp nhất trong những nước có thu nhập trung bình thì điều kiện ưu đãi giảm đi, điều kiện vay và trả nợ cũng khắc nghiệt hơn (lãi suất cao hơn, ân hạn ngắn hơn, thời gian hoàn trả ngắn hơn so với trước đây). Song những hệ lụy mang tính lâu dài này của ODA còn chưa được làm rõ trong công luận, trong khi căn bệnh “nghiện ODA” gắn liền với lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ thành tích chủ nghĩa đã và đang khiến số công trình sử dụng vốn ODA xuất hiện quá nhiều và liên tục nối nhau dẫn tới tình trạng giải phóng mặt bằng không triển khai kịp, vốn đối ứng không có đủ, khiến các công trình chậm hoàn thành, kém hiệu quả.


Mặt khác, những điều kiện của bên tài trợ các dự án ODA hầu như không được công khai đề cập đến. Nguyên nhân là ngoài vấn đề hạn chế nhận thức về ODA còn có những sự tế nhị trong quan hệ quốc tế. Cho đến nay cũng chưa có công trình nghiên cứu khoa học và quy trình thực hiện ODA ở Việt Nam và xác định những tiêu cực có thể có. Tuy nhiên, chính giáo sư Sumi Kazuo (Nhật Bản) đã chỉ ra ba điểm cơ bản khiến đất nước tiếp nhận vốn ODA có khả năng chịu sự bất lợi hoặc bị lợi dụng – ông gọi đây là ba bộ phận trong “binh pháp ODA” của Nhật Bản#: Nước tài trợ tạo ra và duy trì một nhu cầu viện trợ giả tạo cho nước nhận ODA; đòi hỏi những điều kiện bảo đảm lợi nhuận của những công ty từ nước tài trợ tham gia ODA – qua đó làm mất đi hoặc giảm cơ hội, lợi nhuận của các công ty thuộc nước tiếp nhận ODA; và xuất khẩu ô nhiễm môi trường sang nước tiếp nhận ODA. Đối với một số vốn vay ODA từ Trung Quốc, ngoài ba vấn đề kể trên chúng ta còn phải đối diện với vấn đề thứ tư: điều kiện ràng buộc cho phép đưa công nhân Trung Quốc sang thực hiện dự án.

Bất cập trong quản lý vốn ODA ở Việt Nam

Mặc dù đã liên tục tiến hành đầu tư công từ khi thành lập nước đến nay, nước ta vẫn chưa ban hành Luật Đầu tư công, vai trò giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử về đầu tư công nói chung và đầu tư sử dụng vốn ODA nói riêng  chưa được quy định rõ ràng. Sự chậm trễ này là một khiếm khuyết không nhỏ trong công tác quản lý nhà nước.

Chính phủ quản lý ODA bằng nghị định, cho đến nay đã ban hành 5 Nghị định về ODA qua các thời kỳ, song vai tò của thanh tra chưa được đề cao và thực hiện đúng mức. Vai trò phản biện, giám sát độc lập trong quy trình thực hiện ODA chưa được quy định, đặc biệt là vai trò giám sát của tổ chức quần chúng và báo chí.


Điều nổi bật trong thực hiện ODA là tính phức tạp của quy trình mang nặng tính “xin-cho” và sự thiếu công khai, minh bạch về các dự án, các điều kiện, các tiêu chí cụ thể trong quá trình phân bổ. Trách nhiệm hoàn vốn, trả nợ không được tính toán kỹ lưỡng và trình duyệt khi thông qua đề án.

Do nhu cầu đầu tư phát triển về kết cấu hạ tầng nói chung và ở các tỉnh rất lớn trong khi nguồn cung lại có giới hạn nên việc “chạy dự án” đã sản sinh ra một đội “cò dự án” chuyên nghiệp với các mối quan hệ thân quen rất phức tạp. Đã hình thành những “nhóm lợi ích” bất chính ăn bám vào ODA ở cấp trung ương và địa phương.

Người ta đã nói đến “ma trận” thực hiện ODA, xin được dự án, thực hiện dự án, huy động vốn đối ứng, giải phóng mặt bằng v.v. mỗi khâu đều phát sinh nhiều vấn đề có thể gây chậm trễ. Do quy trình không công khai nên khâu chọn thầu, đấu thầu chỉ mang tính hình thức, một số công ty mặc nhiên được chỉ định thực hiện các công trình về cầu, về đường, trong đó có không ít những công ty sân sau, thân quen. Hệ quả là sự bắt tay nhau giữa thi công-giám sát-nghiệm thu dẫn đến giá thành công trình bị đội lên rất cao trong khi chất lượng và tuổi thọ công trình rất thấp. Một ví dụ đặc trưng điển hình cho tình trạng trên xảy ra gần đây được dư luận quan tâm rộng rãi, đó là vụ Cầu treo Chà Và đổ gây chết người, thực tế cũng là một công trình ODA trong đó cơ quan thực hiện do con rể của quan chức đầu tỉnh thực hiện!

Kết luận

Đã đến lúc Việt Nam phải có sự đổi mới tư duy về huy động và sử dụng ODA, có sự chọn lọc chặt chẽ hơn trong sử dụng nguồn vốn này và ban hành Luật Đầu tư công, trong đó có quy định chặt chẽ về trách nhiệm quy trình, thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai minh bạch khi sử dụng nguồn vốn này.

Cần có một chương riêng về vốn ODA trong Luật Đầu tư công và Luật Quản lý nợ công, trong đó quy định rõ các tiêu chí để chấp nhận vốn ODA, thực hiện công khai minh bạch toàn bộ số vốn, dự án ODA, công bố rõ quy trình phân bổ vốn và dự án ODA với các tiêu chí rõ ràng, giảm tối đa cơ chế “xin-cho”. Quy định rõ trách nhiệm cá nhân về từng dự án đồng thời công bố công khai tên những người chịu trách nhiệm; quy định có phản biện độc lập về dự án, trong đó phân tích rõ tác động kinh tế-xã hội của dự án, khả năng thu hồi vốn để trả nợ vốn vay; tổ chức việc giám sát của tổ chức quần chúng, hiệp hội chuyên ngành trong quá trình thực thi dự án.

Cũng đã đến lúc cần có một công trình nghiên cứu độc lập về các khía cạnh liên quan đến ODA nói chung và của từng nước nói riêng, chỉ ra những nhóm lợi ích liên quan đến ODA ở nước tài trợ và trong nước, các mặt lợi và bất lợi của ODA, từ đó đề xuất chiến lược sử dụng có chọn lọc ODA theo lộ trình giảm dần, tiến đến Việt Nam không cần ODA nữa và trở thành một quốc gia tài trợ ODA trong tương lai xa, khi Việt Nam trở thành một nền kinh tế phát triển GDP/người vượt 12.000 USD.

ảnh qua p chien huu