Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

         Lối đi nào cho đổi mới giáo dục đại học?

(Dân trí)-Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đây cũng là bài toán đặt ra cho giáo dục ĐH nhiệm vụ to lớn và vinh dự đó là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng.



Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng thể hiện nội lực của quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo đại học nói riêng được đảm bảo bởi 4 yếu tố cơ bản, đó là: Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Chương trình đào tạo; Tổ chức quản lý quá trình đào tạo. Trong đó, quá trình đổi mới giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để thích ứng và phát triển, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tăng sức cạnh tranh của giáo dục đại học có hai yếu tố cần được đặc biệt quan tâm là: Chương trình và Tổ chức quản lý đào tạo.

PGS.TS Lê Thế Vinh - Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã có bài viết để phân tích chi tiết hai yếu tố cần được đặc biệt nêu trên. Dân trí xin đăng tải bài viết của PGS.TS Lê Thế Vinh để bạn đọc đánh giá và cùng thảo luận chia sẻ.

Bài 1: Đổi mới chương trình đào tạo như thế nào?

Một số nguyên tắc chuyển đổi chương trình đào tạo

Đổi mới chương trình giáo dục đại học và hội nhập quốc tế là một trong những nội dung lớn nhất của việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo tinh thần đổi mới căn bản, việc thay đổi chương trình lần này là nhằm khắc phục sự quá tải đối với khối kiến thức cơ sở, nội dung trùng lắp ở các khối kiến thức chuyên sâu (hình 1 bên dưới), thực hiện chuyển mô hình từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực cho người học, đào tạo nguồn nhân lực hội nhập thị trường lao động quốc tế. Giảm kiến thức hàn lâm, tăng kiến thức gắn với thực tiễn, ứng dụng. Khi thiết kế chương trình thể hiện được sự chuyển đổi từ dạy kiến thức khoa học sang dạy cho sinh viên tự học, cách tự học, tự nghiên cứu. giáo viên (GV) hướng dẫn cho sinh viên (SV) phương pháp, truyền thụ các kỹ năng qua đó giúp SV biết chủ động chiếm lĩnh kiến thức, biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi kiến thức.
 
Lối đi nào cho đổi mới giáo dục đại học?

Quá trình học được thay đổi từ việc luyện cho SV kỹ năng làm bài tập sang hướng dẫn các em phân tích, vận dụng, sáng tạo. Chuyển từ phương pháp xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận nội dung (SV học được bao nhiêu kiến thức) sang hướng tiếp cận năng lực (SV làm được những gì sau khi học xong chương trình).

Coi trọng năng lực cốt lõi, khả năng chủ yếu giúp các em có thể thành công trong nhiều lĩnh vực. Chương trình phù hợp với thực tiễn biến động: kinh tế xã hội liên tục thay đổi, yêu cầu con người, nguồn nhân lực cũng phải thay đổi để thích ứng vì vậy chương trình cần có nhiều môn học tự chọn, có tính mở. Công tác phát triển chương trình hàng năm ở các trường đại học sẽ gồm hai việc đó là điều chỉnh nội dung cho tương thích với nhu cầu của thị trường lao động và cập nhật kiến thức khoa học mới.
Cấu trúc chương trình chuyển đổi từ mô hình chuyên nghiệp (cứng) sang mô hình năng lực (mềm). Mục tiêu về năng lực thực hiện quy định nội dung chương trình thông qua các bộ chuẩn năng lực. Từ bộ chuẩn năng lực của chương trình cho phép GV được linh hoạt và chủ động trong tổ chức dạy học, giúp người học đạt được các mục tiêu năng lực, cũng như thuận lợi trong đánh giá kết quả học tập.


Với cách thức tổ chức dạy học ở thành phố, nông thôn, các tỉnh thành, vùng miền là khác nhau, năng lực của người học, đặc điểm văn hóa, kinh tế xã hội ở từng địa phương, vì vậy, GV và nhà trường căn cứ vào bộ chuẩn năng lực, tham khảo tài liệu hướng dẫn giảng dạy để thiết kế nội dung chi tiết, kiến thức gần với cuộc sống thực. Điều này phát huy tính sáng tạo của GV, gắn hoạt động nghiên cứu với giảng dạy. Nên chương trình được thiết kế theo mô hình tiếp cận năng lực phù hợp khi sử dụng ở các địa phương, vùng miền khác nhau.

Kiến thức hội nhập quốc tế trong chương trình đào tạo

Ngoài việc đổi mới chương trình đào tạo theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học như nội dung trao đổi trên đây, khối kiến thức hội nhập quốc tế đóng vai trò quan trọng và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và đưa vào chương trình đào tạo. Mối tương quan giữa khối lượng kiến thức thuộc các chương trình đào tạo đại học ở các trường trên thế giới, khu vực và ở Việt Nam được mô tả ở hình 2.
Lối đi nào cho đổi mới giáo dục đại học?


Với mục đích nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho người học, chương trình được xây dựng trên cơ sở phân tích nhu cầu thực tiễn về kiến thức hội nhập quốc tế. Trong đó, phần kiến thức chung được chú trọng, các môn học như ngoại ngữ, môn thực tập ở nước ngoài.

Nhằm trang bị cho SV kỹ năng độc lập đi lại, tuân thủ luật pháp quốc tế, cũng như những quy định ở nước sở tại. Biết cách trao đổi, chia sẻ thông tin với người nước ngoài cùng phối hợp làm việc, biết và trân trọng nét đẹp văn hoá của đất nước, con người nơi SV đến thực tập.

Với những môn học này, SV được trang bị kỹ năng, kiến thức cơ bản và trở thành người lao động Việt Nam mới, có khả năng hội nhập quốc tế. Do đó khả năng tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp được mở rộng. Lòng yêu nước, ý thức về dân tộc, tự hào hơn về đất nước Việt Nam được thể hiện rõ.

Khối kiến thức địa phương giúp SV hiểu rõ hơn về tiềm năng, thế mạnh về điều kiện kinh tế, xã hội của vùng miền nơi trường đóng, như một ví dụ cụ thể về nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước thông qua việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, kiến thức kinh doanh, quản lý để phát triển kinh tế địa phương. Xây dựng ý thức cho SV có thể sản xuất ra của cải vật chất, tạo ra các dịch vụ và làm giàu trên chính địa phương.

Trên cơ sở năng lực của từng SV, có thể giúp các em định hình rõ khả năng lao động chất lượng cao của bản thân. Từ mức cơ bản, khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thuộc lĩnh vực chuyên ngành được đào tạo. Đến các mức cao hơn, đó là tự tạo ra được việc làm cho chính mình, sản xuất ra của cải vật chất, tạo ra các dịch vụ. Hoặc khả năng cao nhất mà SV và Nhà trường mong muốn đó là sau khi tốt nghiệp SV có thể trở thành người tạo ra được nhiều việc làm cho chính bản thân và nhiều người khác nữa. Việc làm này là hành động cụ thể xây dựng phát triển kinh tế xã hội tại địa phương và góp phần phát triển đất nước. Thực hiện mục tiêu đào tạo người lao động Việt Nam mới có tư tưởng toàn cầu và hiểu rất rõ địa phương, với khả năng hội nhập quốc tế tốt.

(còn tiếp)

PGS.TS Lê Thế Vinh

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp

(TNO) Nước chủ nhà Brazil vốn nổi tiếng với điệu nhảy Samba. Ở kỳ World Cup sắp diễn ra, chắc chắn điệu Samba sẽ rất rộn ràng trên các khán đài.
Tuy nhiên, điệu samba của Brazil sẽ bị cạnh tranh, khi người Đức cũng có sáng kiến riêng tạo ra một điệu nhảy để cổ vũ đội nhà.

Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 1    Các vũ công Đức với điệu nhảy ủng hộ World Cup - Ảnh: AFP
Điệu nhảy theo phiên bản Đức cũng rộn ràng như samba, nhưng nóng bỏng hơn là được trình diễn bởi các vũ công vốn là những người mẫu xinh đẹp.

Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 2Người Đức chọn các vũ công toàn là các người mẫu xinh đẹp - Ảnh: AFP    
Đội nhảy của nước Đức có tên là World Cup Dance Team, trình diễn với trang phục tuyển Đức được cách điện rất khêu gợi cùng các quả bóng Brazuca.
Quan điểm của đội nhảy này là muốn gửi đến một thông điệp thông qua màn trình diễn của mình là những vũ điệu đẹp sẽ mang lại bóng đá đẹp trên sân cỏ.
Trong giới cầu thủ, những cầu thủ như Alex Oxlade-Chamberlain hay Daniel Sturridge, cũng hay tô điểm cho một trận đấu đẹp bằng các vũ điệu ăn mừng sau các bàn thắng.

Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 3Sturridge (9) thường trình diễn các điệu nhảy sau mỗi bàn thắng. Ảnh: AFP    
Trong lịch sử, vũ điệu ăn mừng bí ẩn và hấp dẫn nhất lại thuộc về cựu tiền đạo người Cameroon, Roger Milla tại các kỳ World Cup 1990 và 1994.
Dưới đây là hình ảnh các vũ công Đức trong điệu nhảy ủng hộ World Cup.

Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 4    
Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 5    
Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 6    
Cổ vũ đẹp, thì bóng đá mới đẹp - ảnh 7

ộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014

(TNO) Bên cạnh những trận chiến trên sân cỏ, màn khoe sắc của những kiều nữ WAGs (vợ hoặc bạn gái cầu thủ) trên các khán đài luôn là tâm điểm ở mọi giải bóng đá lớn.

Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 1World Cup này, bộ đôi anh tài kiều nữ nào sẽ phá được thế thống trị của cặp Ronaldo - Irina? - Ảnh: AFP    
Nhắc đến World Cup 2014, sẽ là lỗi nặng nếu dám bỏ qua phần điểm danh những mỹ nhân cũng tấp nập đặt vé bay đến Brazil.
Dưới đây, xin điểm lại những nàng thơ nổi bật của những anh tài đá bóng cùng tề hội về Brazil:
Irina Shayk (Cristiano Ronaldo)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 2Ảnh: AFP    
Không thể không nhắc siêu mẫu gốc Nga này. Từ khi “đá cặp” cùng Ronaldo, nàng ngày một chói sáng trong lĩnh vực thời trang của mình để hợp với người yêu thành bộ đôi đầy quyền lực trong làng thể thao giải trí.
Không nói nhiều, nàng kiều nữ Nga đầu tiên xuất hiện trên trang bìa tạp chí Sports Illustrated cùng một loạt ấn phẩm lớn khác như Elle, Harper's Bazzar and Cosmopolitan xứng danh là thủ lĩnh giàn WAGS tại Brazil.
Shakira (Gerard Pique)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 3Ảnh: AFP    
Lại một tiêu biểu nữa cho sự kết hợp giữa làng giải trí và thể thao. Gặp nhau khi nàng quay video clip Waka của World Cup 2010, cả 2 đã nhanh chóng thuộc về nhau.
Nhờ vậy, thế giới đang có may mắn được nghe đều đặn những ca khúc sôi động và những màn lắc hông kinh điển của cô ca sĩ gốc Colombia này.
Bruna Marquezine (Neymar)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 4Ảnh: AFP    
Bất kể sự chen chân của nàng cô người mẫu 20 tuổi Gabriella Lenzi, việc Bruna Marquezine xuất hiện và trao những nụ hôn tình tứ với Neymar sau buổi tập của tuyển Brazil đảm bảo tần suất tin bài dày đặc của biểu tượng sex tuổi teen nơi đất nước Samba này.
Ann-Kathrin Brommel (Mario Gotze)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 5Ảnh: Intasgram    
Bất chấp scandal “lộ hàng” trong một chuyến đi nghỉ, nữ người mẫu, ca sĩ và blogger vẫn bộc lộ tài năng và toả sáng rực rỡ bên cạnh cầu thủ Bayern Munich. 
Thích chạy bộ, ca hát, nấu ăn và chơi đàn piano, nàng kiều nữ này sau khi xuất hiện trên tạp chí FHM hứa hẹn sẽ tiếp tục hâm nóng bầu không khí vốn đã rất nóng bỏng tại Brazil mùa hè này.
Antonella Roccuzzo (Lionel Messi)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 6Ảnh: AFP    
Yêu nhau từ thuở hàn vi, Lionel Messi và Antonella Roccuzzo chính thức hẹn hò từ năm 2008. Đến năm 2012, kết tinh của tình yêu lãng mạn này đã hình thành với cậu bé Thiago.
Chắc chắn, sự xuất hiện thầm lặng trên khán đài của Antonella Roccuzzo sẽ là động lực cực lớn cho Messi trong mục tiêu đem về một danh hiệu World Cup nữa cho Argentina, để sánh vai cùng huyền thoại Diego Maradona.
Edurne Garcia Almagro (David De Gea)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 7Ảnh: AFP    
De Gea tự hào về danh hiệu cầu thủ Manchester United xuất sắc nhất mùa. Nhưng điều đó hẳn chẳng thể tự hào bằng cô bồ Edurne xinh đẹp, người từng làm nổ tung Tây Ban Nha bằng album Despierta năm 2006 cùng các album sau như Ilusion, Premiere...
Sara Carbonero (Iker Casillas)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 8Ảnh: AFP    
Nữ nhà báo quyến rũ nhất thế giới Carbonero sẽ như thường lệ sát cánh cùng tuyển Tây Ban Nha mọi lúc, mọi nơi và chắc chắn sẽ “cướp” đi không ít sự tập trung, như từng bị “cáo buộc” 4 năm trước, khi Tây Ban Nha bất ngờ thua Thuỵ Sĩ.
Nhưng sau đấy, nàng và chàng đã khiến cả thế giới lặng đi khi thủ thành Real Madrid bất ngờ trao cho một nụ hôn thắm thiết trong buổi phỏng vấn sau chiến thắng ở trận chung kết.
Năm nay sẽ có cú sốc nào đây?
Michela Quattrociocche (Alberto Aquilani)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 9Ảnh: AFP    
Chàng là “hoàng tử thành Rome” nhưng chỉ kịp đến Brazil nhờ chấn thương bất ngờ của người đàn anh Montolivo. 
Nhưng nữ diễn viên người Ý, người đã sinh cho Aquilani đứa con đầu tiên Aurora năm 2011 sẽ nhiều khả năng “đá chính” cùng phi đội WAGS hùng hậu của “Azzurri” trên các khán đài. 
Những WAGS từ xứ sương mù hãy đợi đấy!
Yolanthe Sneijder-Cabau (Wesley Sneijder)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 10Ảnh: AFP    
Tại Brazil, Sneijder sẽ phải tập làm quen với vị trí hộ công sau 2 tiền đạo ở sơ đồ 5-3-2 lạ lẫm của Hà Lan. Nhưng bà xã của anh, con gái của một doanh nhân được mệnh danh là “Vua của Ibiza” sẽ không bỡ ngỡ chút nào.
Ngay sau thất bại của Sneijder ở trận chung kết World Cup 2010, Yolanthe Sneijder-Cabau nhận danh hiệu người phụ nữ quyến rũ nhất Hà Lan, lần thứ 3 trong 4 năm.
Hãy tin, lần này mĩ nhân này sẽ muốn nhận danh hiệu cùng chiến thắng của người chồng tài năng.
Fanny Neguesha (Mario Balotelli)
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 11Ảnh: AFP    

Yêu? Không yêu? Yêu? Không yêu...?
Đừng quá bận tâm về mối quan hệ trúc trắc khó hiểu giữa Fanny với Balotelli, một trong những cầu thủ khó hiểu nhất của làng túc cầu thế giới.
Nội việc thuần hoá chàng “ngựa hoang” khó dạy bảo này, cô đã là người hùng nước Ý rồi. Hãy nghe Balotelli dịu dàng: “Tôi có thể giành phần đời còn lại của mình với người như cô ấy!”.
Tin đi, với Fanny trên khán đài và Balo sẽ sút rất dã man cho mà coi.
Hãy xem thêm một số tấm ảnh về những kiều nữ sẽ hâm nóng các khán đài tại Brazil: 
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 12Irina và Ronaldo luôn là tâm điểm chú ý - Ảnh: AFP
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 13Irina liệu có nghĩ rằng trời Brazil chưa đủ nóng? - Ảnh: AFP
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 14World Cup này, đến lượt ai sẽ mất tập trung vì nàng, Sara? - Ảnh: AFP
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 15Cứ gửi hình thế này, Gotze sẽ thi đấu tập trung nổi tại Brazil hay không sẽ là dấu hỏi lớn!!! - Ảnh: Instagram        
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 16Với 2 thiên thần này, Aquilani hoàn toàn có thể vụt sáng từ hoàng tử thành hoàng đế! - Ảnh: AFP
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 17Antonella Roccuzzo trầm lặng nhưng luôn cùng quý tử Thiago là nguồn sức mạnh vô biên của Messi - Ảnh: AFP
Lộ diện đội hình WAGS “khủng” tại World Cup 2014   - ảnh 18    Why always me, Balotelli? - Ảnh: AFP    

Hơn 1 triệu gái làng chơi sẵn sàng cho... World Cup 2014

(TNO) Ước tính có hơn 1 triệu cô gái bán dâm đã tề tựu về các thành phố lớn của Brazil để sẵn sàng cho kỳ World Cup sắp diễn ra.
Hơn 1 triệu gái làng chơi sẵn sàng cho... World Cup 2014 - ảnh 1Brazil đã hợp pháp hóa mại dâm từ năm 2000 - Ảnh: adelaidenow
Với khoảng 3,7 triệu khách du lịch tới Brazil trong thời gian diễn ra World Cup 2014, đây chắc chắn là cơ hội vô cùng lớn cho nền công nghiệp sex ở nước này.
Theo đó, thủ phủ Belo Horizonte được xem là thủ đô tình dục của Brazil. Thành phố có 5 triệu dân này là chốn ăn chơi thâu đêm suốt sáng với 12.000 hộp đêm và 23 nhà thổ. Đặc biệt, tại đây chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng trong thời gian diễn ra World Cup.

Các nhà thổ ở Belo Horizonte đang lên kế hoạch cạnh tranh quyết liệt để thu hút du khách dịp này, trong đó có cả việc cung cấp dịch vụ đưa đón bằng xe Limousine và tuyển thêm nhân viên biết nói tiếng Anh.

Brazil đã hợp pháp hóa mại dâm từ năm 2000. Chính phủ nước này xem mại dâm là nghành công nghiệp lành mạnh cũng ngày càng chú trọng hơn vào việc quy hoạch và quản lý nghề nghiệp nhạy cảm này.
Hơn 1 triệu gái làng chơi sẵn sàng cho... World Cup 2014 - ảnh 2Các cô gái bán hoa trên đường phố Belo Horizonte - Ảnh: adelaidenow
Các cô gái bán hoa tại Brazil được quản lý bởi một tổ chức có tên là Aprosmig, đây là tên viết tắt của Hiệp hội gái bán hoa bang Minas Gerais. Aprosmig thường xuyên tổ chức các cuộc kiểm tra y tế định kỳ và những lớp “kỹ năng tình dục an toàn” cho gái bán dâm.

Ý thức của người Brazil về sự an toàn của những cô gái bán dâm cũng đã được nâng lên tầm cao mới. Mỗi năm, Brazil còn tổ chức một cuộc thi Hoa hậu bán dâm quy mô toàn quốc.

Để chuẩn bị cho World Cup 2014, tổ chức Aprosmig đã mở nhiều lớp học tiếng Anh và một vài ngôn ngữ phổ biến khác để gái bán hoa có thể tự tin giao tiếp với khách du lịch nước ngoài.

Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn

(TNO) Nhiếp ảnh gia người Mỹ, Tim Tadder kỳ công thực hiện một bộ ảnh lịch tuyệt đẹp chào mừng sự kiện World Cup sắp khai diễn tại Brazil.
Bộ ảnh được thực hiện từ đầu tháng 1 năm nay tại 12 địa điểm diễn ra các trận đấu ở VCK World Cup tại Brazil.
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 1
   Nhiếp ảnh gia Tim Tadder  đã kỳ công thực hiện bộ ảnh để chào mừng sự kiện World Cup. Trong ảnh là người đẹp đại diện cho tuyển Argentina.
Nhiều người mẫu được lựa chọn kỹ càng, và trong các trang phục của 32 đội tuyển được cách điệu sao cho thật khêu gợi nhất.
Các người mẫu ngoài vẻ đẹp, sự cuốn hút, thì cũng phải thực hiện nhiều động tác… bóng đá một cách thuần thục nhất khi chụp ảnh.
Nhiếp ảnh gia Tim Tadder cho biết, anh và các cộng sự rất vất vả chỉnh sửa từng động tác một của các cô người mẫu mới có được những khung hình ưng ý. Vất vả nhất là làm sao để các cô gái chân yếu tay mền, không biết nhiều về bóng đá thực hiện các động tác tung người đá bóng kiểu “xe đạp chổng ngược”…
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 2
Người đẹp đại diện cho chủ nhà Brazil, thực hiện cú đá bóng kiểu “xe đạp chổng ngược”
Tadder cũng phải đi khảo sát 12 sân vận động của Brazil, tìm các góc chụp đẹp nhất vừa thể hiện chất bóng đá, phong cảnh, con người và cuộc sống tại đây.
Sau vài tháng làm việc cật lực, bộ ảnh lịch vừa được chính thức phát hành ra công chúng, cũng như được triểm lãm tại các sân đấu khi VCK World Cup diễn ra.
Trang Daily Mail bình luận, bên cạnh tờ lịch thi đấu, thì các tín đồ bóng đá cũng phải có bộ lịch này để không khí World Cup nóng bỏng hơn.
Một số ảnh được giới thiệu với các người mẫu trong trang phục các đội tuyển.
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 3
    Người đẹp tuyển Anh
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 4
    Pháp
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 5
  Đức 
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 6
Hà Lan   
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 7
    Ý
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 8
Mexico   
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 9
    Nigeria
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 10
Tây Ban Nha   
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 11
    Thụy Sĩ
Bộ ảnh lịch bốc lửa chào mừng World Cup khai diễn - ảnh 12
    Mỹ

Cường quốc gì?


Thế giới hiện có nhiều cường quốc. Mỹ là số 1, cả kinh tế lẫn quân sự. Nga là cường quốc quân sự, Nhật là cường quốc kinh tế. Còn Trung Quốc là cường quốc gì?


Tàu Trung Quốc hung hăng tấn công tàu thực thi pháp luật của Việt Nam tại khu vực giàn khoan Hải Dương-981 - Ảnh: Mai Thanh Hải

Về dân số, Trung Quốc bằng ¼ thế giới, bỏ xa các cường quốc Mỹ, Nga, Nhật. Chả lẽ gọi là cường quốc dân số? Về kinh tế, tổng GDP Trung Quốc xếp thứ 2, sau Mỹ và trước Nhật. Nhưng tài sản của Trung Quốc 1,4 tỉ dân nhiều hơn 130 triệu dân Nhật có gì đâu để nói?
Có người bảo Trung Quốc là cường quốc chơi xấu khắp thế giới, nhất là với các nước láng giềng mà đặc biệt Việt Nam với vô vàn trò đểu. Nếu Liên Hiệp Quốc có cuộc thống kê thì chắc chắn Trung Quốc là cường quốc bị thiên hạ ghét nhất? Chẳng có cường quốc nào lại hành xử hạ cấp như Trung Quốc. Lân bang của Trung Quốc, nếu không chịu thuần phục thì suốt đời phải đối phó vất vả vì đối phương không từ bỏ bất cứ thủ đoạn bẩn thỉu nào, miễn là ức hiếp được mấy nước nhỏ. Kẻ khác bảo Trung Quốc luôn nói một đằng, làm một nẻo, quen thói lật lọng. Điều này thiên hạ đã rất tỏ tường.
Ai đời là cường quốc, là 1 trong 5 thành viên có quyền phủ quyết của Liên Hiệp Quốc, đáng lẽ phải luôn gương mẫu tôn trọng các nước khác thì Trung Quốc cứ làm ngược lại. Ức hiếp và chiếm đảo của Philippines, bị kiện ra tòa án quốc tế, đường đường vỗ ngực là cường quốc mà không dám ló mặt đến tòa. Chỉ có kẻ gian mới sợ tòa án, sợ sự minh bạch và ánh sáng công lý. Mấy năm nay, cứ suốt ngày rình mò bắt nạt ngư dân Việt Nam không có nửa tấc sắt tự vệ. Từ đâm húc tàu, đánh đập ngư dân, bắt cóc đòi tiền chuộc, phá hỏng thiết bị, ăn cướp tài sản và cả tôm cá của ngư dân đánh bắt được. Hở một chút là lên giọng đe nẹt, cứ đòi dùng vũ lực dạy người thân cô. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh ngược lại, ai đã dạy ai. Gần nhất là “bài học dạy ngược lại” của người Việt dành cho quân xâm lược Trung Quốc vào tháng 2.1979.
Hà hiếp ngư dân Việt Nam chưa đủ, cả tháng nay Trung Quốc ngang ngược kéo giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng biển Việt Nam. Nếu biển của Trung Quốc sao cả thế giới lên án? Sao phải đưa hơn trăm tàu thuyền và máy bay hung hăng canh chừng, bảo vệ. Suốt ngày đâm, húc, xịt vòi rồng và cả ném đá vào tàu Việt Nam. Nếu giàn khoan này ở biển Trung Quốc, tàu các nước bén mảng tới, dù là vô tình, Trung Quốc đã thẳng thừng tiêu diệt. Vừa ăn cướp vừa la làng nhưng chỉ lừa được những người dân Trung Quốc bị nhồi sọ và bưng bít thông tin. Giàn khoan Hải Dương-981 đã vứt bỏ mặt nạ đạo đức giả cuối cùng của chính quyền Trung Quốc. Là dịp may hiếm có thức tỉnh những người Việt u mê và cả tin vào “hữu nghị viển vông”, là cơ hội xóa bỏ hiềm khích, đoàn kết hợp lực giữ nước và thoát dần sự lệ thuộc nguy hiểm vào Trung Quốc.
Từ năm 2000 đến nay, nhập khẩu Trung Quốc vào Việt Nam tăng hơn 110 lần. Nhập siêu thương mại Việt - Trung năm 2013 là 23,7 tỉ USD. Các dự án của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam đa phần đều chậm tiến độ, đội giá, thiết bị lạc hậu, kém hiệu quả và kéo theo hàng chục ngàn lao động trái phép. Nhiều dự án còn xâm hại an ninh quốc phòng. Thoát dần sự lệ thuộc là thoát khỏi hiểm họa bị hàng Trung Quốc “ướp xác từ lúc còn sống”, bởi Việt Nam là thị trường béo bở của hàng thải, hàng độc hại "made in China". Việt Nam vẫn giao thương với Trung Quốc nhưng bình đẳng, tôn trọng nhau, cùng có lợi chứ không bị lép vế và thua thiệt đủ bề như hiện nay. Chơi với ma dễ thành tà. Việt Nam không thể chọn láng giềng nhưng có thể chọn bạn chí cốt.
Giàn khoan Hải Dương-981 trước sau cũng phải rút về. Cả thế giới sẽ không ngồi yên để Trung Quốc tự tung tự tác. Kẻ cướp, một khi không bị pháp luật xử lý, không được ngăn ngừa, thì sẽ cực kỳ nguy hiểm. Hôm nay Việt Nam là nạn nhân, ngày mai sẽ là những nước khác. Cái xấu phải được chặn đứng. Có người bảo Trung Quốc hành xử như con nít, như hàng tôm hàng cá. Nói vậy có tội vì con nít chưa làm chủ hành động của mình nhưng thật thà, có sao nói vậy. Hàng tôm hàng cá, có người ít học; đôi khi nói năng bốc đồng, đốp chát chứ không có kiểu “vừa ăn cướp vừa la làng”. Cả tháng nay, Trung Quốc đang chứng tỏ mình là cường quốc xịt vòi rồng và ném đá, từ tàu cá đến tàu cảnh sát biển và kiểm ngư Việt Nam.
Bùi Nguyễn Thiên Du (*)
(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một doanh nhân sống và làm việc tại TP.HCM
THÊM, tia sáng bài bát tuần Nguyên Ngọc 5/9/2012
Riêng có mấy lời các cụ xứ Quảng răn con cháu thì tuy khó mà vẫn nhớ được, nhớ để thỉnh thoảng còn “điểm huyệt” Nguyên Ngọc:
Bất giao Thừa Thiên hữu, thanh hóa
Bất thú Quảng Nghĩa thê,
Bất thương Bắc Hà khách,
Bất đấu Bình Định kê.
- Thật ra, đại đa số người trong xã hội thường có những mục tiêu khá khiêm tốn trong cuộc sống: một vốn liếng giáo dục hợp lý, một thu nhập vừa phải và ổn định, một hoạt động tự do theo ý thích, yên tâm nuôi dạy con cái, có một tuổi già mạnh khỏe và một cái chết an lành. Những mục tiêu ấy không có gì chung với một thái độ tiêu thụ vô độ cả. Tia sang bài chân thắng chân ga 10-9-2012
Tia sang 04:07-10/09/2012
"Chân thắng" và "Chân ga"
Bùi Văn Nam Sơn

Bùi Văn Nam Sơn
“Văn hóa là chân thắng. Kinh tế là chân ga”
                               Nguyên Ngọc

Trong bài “Văn hóa… để làm gì?" (Vietnamnet, 10.7.2009), Nguyên Ngọc viết: “Những gì gọi là văn hóa chúng ta đang làm thường rất ồn ào, và văn hóa thật thì lại không ồn ào. Nó thâm trầm.

Cái thắng có ồn ào bao giờ đâu, trừ khi phải thắng gấp vì sắp chết đến nơi! Chúng ta chưa thật sự làm văn hóa. Có phải thật thế không? Tôi rất mong được thử trao đổi, để cùng suy nghĩ tiếp, và để cho cuộc đi tới của chúng ta hôm nay, và cả ngày mai nữa, nhanh mà vững, mà bền, và nói cho cùng, để cuộc đi tới của chúng ta hôm nay thật sự đưa đến sự trong lành cho xã hội và hạnh phúc cho con người”.

Với nhận định trên đây, nhà văn Nguyên Ngọc đã có sự trăn trở của một nhà văn hóa, hay, đúng hơn, của một nhà phê phán văn hóa, tiếp nối một truyền thống có lịch sử rất lâu dài và phong phú, nhưng đặc biệt nổi bật trong thời gian gần đây. Xin đóng góp phần nhỏ vào cuộc trao đổi này chung quanh một vài điểm liên quan đến khái niệm văn hóa và phê phán văn hóa đang được thảo luận ở các nước phát triển.

TỪ SỰ MỞ RỘNG KHÁI NIỆM VĂN HÓA…

Hiện nay, khái niệm văn hóa đang được mở rộng và, đôi khi có sự thay đổi sâu sắc về ý nghĩa. Thông thường, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp của một phạm vi đặc thù: văn chương nghệ thuật, khoa học với sợi dây nối kết là triết học. Nó đồng nhất với biểu trưng về “Chân-Thiện-Mỹ” như trong quan niệm ở thế kỷ 19. Văn hóa, theo nghĩa ấy, là giảng đường, nhà hát, thư viện, nhà bảo tàng, các hội nghệ sĩ, các trang “feuilleton” trên báo chí, và, tất nhiên, là cả các cơ quan phụ trách những lĩnh vực ấy.

Nhưng, ta lại đối diện với một nghĩa rộng hơn. Theo đó, văn hóa không phải là một khái niệm đặc thù, mà là tổng thể của tất cả những gì do con người làm ra. Với nghĩa rộng và tổng thể này, văn hóa đồng nghĩa với “hình thức đời sống”. Định nghĩa này chính thức được thừa nhận trong văn kiện quốc tế quan trọng nhất về văn hóa. Đó là Tuyên bố Mexico-City về chính sách văn hóa của Hội nghị thế giới lần thứ hai về văn hóa của UNESCO từ ngày 26.07 đến 06.08.1982 gồm 129 quốc gia thành viên, gồm lời nói đầu và 54 điều khoản (liên quan đến: bản sắc văn hóa; kích thước văn hóa và sự phát triển; văn hóa và dân chủ; di sản văn hóa; sáng tạo và giáo dục nghệ thuật và tinh thần; mối quan hệ giữa văn hóa với giáo dục, khoa học và truyền thông; lập kế hoạch, quản trị và tài trợ những hoạt động văn hóa; và sau cùng, sự hợp tác quốc tế về văn hóa). Định nghĩa chính thức về văn hóa và chức năng của văn hóa trong Tuyên bố này thật đáng ghi lại:

“Hội nghị nhất trí cho rằng văn hóa theo nghĩa rộng nhất là toàn bộ những phương diện tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm tạo nên đặc điểm của một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hóa không chỉ bao hàm văn học nghệ thuật mà cả những hình thức đời sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và những loại hình tín ngưỡng.

Hội nghị nhất trí cho rằng, thông qua văn hóa, con người có năng lực suy tưởng về chính mình. Chỉ thông qua văn hóa, chúng ta mới trở thành những thực thể người, có lý trí, có năng lực phán đoán phê phán và có xúc cảm về bổn phận luân lý. Chỉ thông qua văn hóa, ta mới nhận ra những giá trị, và tiến hành lựa chọn chúng. Chỉ thông qua văn hóa, con người mới biểu lộ được chính mình, mới có ý thức về mình, nhận ra sự bất toàn, biết đặt những thành tựu của chính mình thành vấn đề, tìm kiếm không mệt mỏi những nội dung ý nghĩa mới mẻ và tạo nên những công trình nhờ đó con người vượt ra khỏi sự hữu hạn của mình”1. Chính sách văn hóa, thể hiện chi tiết trong 54 điều, xuất phát từ cách hiểu như thế về văn hóa và sứ mệnh của văn hóa.

Có rất nhiều lý do dẫn đến cách hiểu mở rộng này. Dưới giác độ xã hội học và kinh tế, đó là sự lớn mạnh của xã hội đại chúng và muộn hơn là xã hội tiêu thụ, nhất là trong các xã hội Tây phương, từ cuối thế kỷ 19 sang thế kỷ 20. Những gì trước đây thuộc “văn hóa cao cấp”, - tức văn hóa theo nghĩa hẹp - bây giờ trở thành sở hữu chung của quần chúng. Xã hội ấy đòi hỏi một nền sản xuất có tính công nghiệp về văn hóa, một “nền công nghiệp văn hóa” (Kulturindustrie), như cách đặt tên của Horkheimer và Adorno vào thập niên 1940 thế kỷ hai mươi. Từ cuối những năm 80, khái niệm “xã hội văn hóa” và cùng với nó, khẩu hiệu “thẩm mỹ hóa thế giới sống” trở thành dẫn đạo ở phương Tây dưới ảnh hưởng của trào lưu hậu-hiện đại Pháp và phong trào “cultural studies” ở khu vực Anh-Mỹ.

Có cả những lý do chính trị, với nhiều nghịch lý lạ thường. Chính các khái niệm về bản sắc văn hóa, bảo vệ lịch sử và ngôn ngữ dân tộc, chứ không chỉ sự nghèo đói, bị bóc lột, áp bức, là những yếu tố quyết định nơi các phong trào giải phóng dân tộc từ những thập niên 50, và cả trong các phong trào nữ quyền ở một số thời kỳ nhất định. Terry Eagleton2 có một nhận xét lý thú: khi ngôn ngữ kêu đòi “giải phóng” chuyển từ lĩnh vực chính trị sang lĩnh vực văn hóa, vô hình trung “cánh tả” đã sử dụng trở lại hệ khái niệm cố hữu của “cánh hữu” mà hình thức cực đoan nhất của nó ngày nay là của Leo Strauss và Samuel P. Huntington về “sự xung đột giữa các nền văn hóa” (và Eagleton không ngần ngại gọi là “dã man”!): “Sau chiến tranh lạnh, trên thế giới chỉ còn đáng kể là những ngọn cờ và những biểu trưng về bản sắc văn hóa như chữ thập, trăng lưỡi liềm và thậm chí cả khăn đội đầu, vì văn hóa giữ vai trò quyết định”3.

… ĐẾN SỰ ĐẢO NGƯỢC Ý NGHĨA

Khái niệm “văn hóa” không chỉ được mở rộng mà còn trải qua nhiều cuộc đảo lộn về ý nghĩa nữa. Sự đối lập ban đầu của nó với sự “dã man” được thay thế bằng sự đối lập khác trong bản thân nền văn hóa: giữa văn hóa và văn minh. Cặp khái niệm này xuất phát từ Immanuel Kant và mang đặc thù của nước Đức. Khác với Rousseau, Kant không còn viện dẫn đến “tự nhiên” như yếu tố bên ngoài để so sánh, mà viện đến một sự phân biệt nội tại, đó là giữa văn hóa và văn minh.
Đặc điểm phân biệt ở đây là  luân lý: bao lâu ta chỉ tuân theo những luật lệ và quy ước xã hội (kỳ cùng là từ những động cơ vị kỷ), ta chỉ mới được “văn minh hóa” (ziviliziert). Chỉ trở thành “văn hóa” (kultiviert) khi ta làm việc ấy với lòng xác tín sáng suốt. Tuy việc đối lập “văn hóa/văn minh” là đặc thù của nước Đức, nhưng từ những năm 60 thế kỷ trước, nó trở thành phổ biến khi văn hóa được đặt ở vị trí ưu tiên trước chính trị.

Tuy nhiên, vị trí ưu tiên của văn hóa lại gắn liền với một sự đảo lộn quan trọng về ý nghĩa bên trong khái niệm này. Trong khi khái niệm “văn minh” bây giờ đại diện cho các giá trị hiện đại như tính phổ quát, sự tự trị, tính chủ thể, tính lý tính, sự tự phê phán và cả sự tự trào, thì khái niệm “văn hóa” lại biểu thị sự đối nghịch với những giá trị ấy. “Văn hóa” mang ý nghĩa bảo thủ, tiền-hiện đại của sự trung thành mù quáng và tình cảm gắn bó với cộng đồng mà mình thuộc về, và, vì nó, trong những tình huống cực đoan, người ta sẵn sàng gây chiến và đổ máu. Hành động không còn được biện minh bằng những lý lẽ mà người khác có thể chia sẻ, trái lại, bằng việc nhân danh nền “văn hóa” riêng của mình: tôi hành động như vẫn luôn hành động như thế trong cộng đồng của tôi. Một thứ “chủ nghĩa duy văn hóa” như thế xâm nhập cả vào trong tư duy khoa học. Cái gọi là “bước ngoặt văn hóa” (cultural turn) trong các ngành khoa học nhân văn, ở dạng cực đoan, sẽ ngoảnh lưng lại với tư duy chính trị và xã hội. Người ta có khi không khỏi nhận ra một sự “tương đồng thật mỉa mai” giữa một số biểu hiện của chủ nghĩa hậu-hiện đại và… Hồi giáo cực đoan! Bao lâu “văn hóa” vẫn còn được hiểu như một sự đối lập nào đó với tính chất phổ quát của “văn minh”, sẽ ẩn chứa một nguy cơ: văn hóa trở thành bạo động, thậm chí, “dã man”4.

Việc gắn “văn hóa” với… “dã man” không phải hoàn toàn mới lạ. Ở phương Tây, Friedrich Schiller, nếu không phải là người đầu tiên thì cũng là người nhấn mạnh một cách nổi bật. Trong bức thư thứ tám trong “Các bức thư về giáo dục thẩm mỹ” (1795), Schiller đã đặt câu hỏi: “tại sao chúng ta vẫn còn là những con người dã man?”. Theo Schiller, con người “hoang dã” đặt tình cảm lên trên những nguyên tắc, ngược lại, con người “dã man” dùng những nguyên tắc để phá hủy tình cảm. Hai phương diện này - người hoang dã và người dã man, sự ngự trị của tình cảm hoặc của nguyên tắc -, theo Schiller, không chỉ diễn ra tuần tự trong lịch sử, mà còn có thể diễn ra đồng thời, như ở thời ông: “dã man” trở thành một đặc tính cơ bản của văn hóa, và đó không gì khác hơn là sự khắc nghị, xơ cứng của những quy phạm có giá trị tuyệt đối trong xã hội, hay nói khác đi, sự “dã man” của lý tính luân lý.

Nếu thừa nhận cùng Schiller rằng “không bao giờ có một trang nào của văn hóa mà không đồng thời là một trang của sự dã man” (Walter Benjamin), thì ngày nay cách hiểu về sự “dã man” này cũng có sự thay đổi. Schiller hiểu đó là thế giới của lý tính phiến diện, nghiêm ngặt, giáo huấn, phán truyền, còn ngày nay người ta hiểu đó là thế giới của những nề nếp suy nghĩ và hành động giáo điều, không-phản tư, không đặt nền trên sự lập luận và đối thoại. Nhưng, điểm chung giữa Schiller và chúng ta ngày nay là đều thấy cần tiến hành phê phán văn hóa và có cái nhìn tỉnh táo về khái niệm rất hàm hồ này.

“VĂN HÓA” BỊ BAO VÂY

Trong thế kỷ 21, “văn hóa” có còn giữ được vai trò “chân thắng”, xét cả ở phạm vi rộng lớn của thế giới hiện đại, nhất là ở các xã hội phát triển, mà sớm muộn cũng sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nước ta? Viễn cảnh vừa có vẻ khá ảm đạm và phức tạp, vừa le lói những tia hy vọng, ít nhất với ba “triệu chứng” đang thu hút sự quan tâm của công chúng lẫn giới chuyên môn:

1. “Thế giới cuộc sống” (văn hóa) bị “hệ thống” (tiền và quyền lực) bao vây

Con người chủ thể văn hóa giao tiếp với nhau trong chân trời của một “thế giới cuộc sống. Thế giới cuộc sống hầu như là nơi người nói và người nghe gặp nhau, theo định nghĩa của Jürgen Habermas. “Thế giới cuộc sống” (văn hóa) và “hệ thống” (tiền và quyền lực) là sự lưỡng phân giữa một bên là sự tái sản xuất biểu trưng và bên kia là sự tái sản xuất vật chất của xã hội. Chính trong diễn trình tiến hóa của đời sống văn hóa-xã hội mà hai lĩnh vực tái sản xuất này phân hóa thành hai lĩnh vực hoạt động độc lập. Với Habermas, tiến trình này là đặc điểm trung tâm của xã hội hiện đại, với ba giai đoạn phát triển:

- các xã hội truyền thống: “thế giới cuộc sống” chưa bị phân ly với “hệ thống”, nghĩa là, những hình thức xã hội trong đó sự tái sản xuất vật chất còn được điều chỉnh và chi phối bởi lĩnh vực của những giá trị văn hóa. Các chuẩn mực văn hóa còn ảnh hưởng quyết định đến các điều kiện của nền sản xuất vật chất.
- giai đoạn thứ hai, từ thời Cải cách đến thời công nghiệp hóa, “hệ thống” bắt đầu tách rời “thế giới cuộc sống”, với hệ quả: “quyền lực chính trị” và “quyền lực đồng tiền” - như là công cụ điều chỉnh của “hệ thống” - vốn quy định lô gíc hành động của con người, nay đã bị phân ly với những giá trị và chuẩn mực văn hóa. Sự xâm hấn của “hệ thống” lên “văn hóa” được Habermas gọi là “sự thuộc địa hóa thế giới sống”.
-    giai đoạn thứ ba hiện nay là sự bùng nổ công khai sự xung đột giữa “hệ thống” và “thế giới cuộc sống”. Giải pháp nào cho nó là câu hỏi còn để mở5.

2. “Sức mạnh của những liên kết yếu”

Trong tác phẩm nổi tiếng “Con người mềm dẻo”, 1998 6, nhà xã hội học Richard Sennett dường như đã phác họa hình ảnh con người trong “nền văn hóa của chủ nghĩa tư bản mới” khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba, như là hệ quả của những phân tích trên đây của Habermas. Sự phân tích không mấy tích cực về những thay đổi trong thế giới lao động tương lai cho thấy: “chủ nghĩa tư bản mới” sẽ vượt bỏ mọi ranh giới, tháo dỡ những cấu trúc mang tính định chế mà con người đã quen thuộc trước nay. Thay vì có sự an toàn, vững chắc của công ăn việc làm, và có thể dự tính được tương lai sẽ là trải nghiệm về một sự “nổi trôi”: từ một “trật tự dài hạn” trở thành một sự “làm ăn tạm bợ”. Thay cho hình mẫu định chế quen thuộc sẽ là những cấu trúc kiểu nối mạng. “Chủ nghĩa tư bản mềm dẻo” xóa bỏ những cấu trúc dựa trên tính dài hạn, bởi “những cấu trúc kiểu nối mạng sẽ ít nặng nề hơn”. “Sức mạnh của những liên kết yếu” là hữu ích hơn những liên kết dài hạn. “Tính mềm dẻo” sẽ làm phai nhạt những “tính cách cố định”, buộc con người phải sẵn sàng “chấp nhận sự phân mảnh”. Kết quả sẽ hình thành mẫu người “mềm dẻo”: “một cái Tôi linh hoạt, một sự cắt dán của những mảnh vụn luôn biến động, luôn mở ngỏ với những trải nghiệm không ngừng mới mẻ. Đó chính là những điều kiện tâm lý chuẩn bị cho thế giới lao động ngắn hạn, không bền vững, không an toàn”.

Đàng sau sự biến đổi trên bề mặt ấy là sự chuyển dịch sâu xa trong cấu trúc kinh tế-văn hóa: lao động sản xuất theo nghĩa cổ điển ngày càng mất vị trí cố hữu trong các quốc gia giàu có, và được chuyển sang các nước nghèo. Giao dịch tiền tệ gia tăng trọng lượng, và cùng với nó, công ăn việc làm chuyển dịch từ lao động sản xuất sang lao động quản lý, quảng cáo, dịch vụ và giao dịch. Nền “văn hóa sự kiện” (Event Culture) chính là sản phẩm của nền văn hóa giao dịch tiền tệ, của nền văn hóa của xã hội dịch vụ, trong đó đồng tiền trở thành nhân tố chủ đạo. Sẽ chỉ còn sự tiêu thụ đơn thuần - không chỉ tiêu thụ thực phẩm mà còn là tiêu thụ văn hóa, tiêu thụ sự “tổ chức cuộc sống”. Bản thân sự trải nghiệm cuộc sống (“văn hóa sự kiện”) cũng trở thành hàng hóa, có thể mua, bán, cho thuê, nhất là máy móc, thiết bị, bản quyền, để được phép sử dụng dù chỉ trên màng hình (vd: những trò chơi điện tử…). Nếu văn hóa của con người là văn hóa của những mối quan hệ, từ chính những mối quan hệ này sẽ quy định cả chính trị.

3.     Việc “không có công ăn việc làm” trong lòng “xã hội lao động”

Thời cổ đại quý trọng sự nhàn rỗi, và đánh giá “lao động” từ sự nhàn rỗi. Ngược lại, thời cận và hiện đại tôn vinh lao động và xuất phát từ lao động để đánh giá thấp việc không lao động. Hậu quả nghịch lý: chính sự hợp lý hóa sản xuất đã tạo ra sự thất nghiệp (Keynes), đồng thời, người thất nghiệp cảm thấy mất hết ý nghĩa cuộc sống và cả giá trị bản thân, bởi lao động vẫn được xem như một giá trị và giá trị ấy chỉ có thể hiện thực hóa thông qua lao động. Đúng như Günther Anders nhận định: “Vấn đề không còn là phân phối công bằng những thành quả của lao động, mà là làm sao cho con người chịu đựng nỗi những hậu quả của việc không lao động”7.

Tóm lại, trong viễn cảnh như thế, khi “văn hóa” không chỉ còn có nghĩa hẹp như các giá trị tinh thần theo sơ đồ “thượng tầng” và “hạ tầng”, trái lại, được triển khai trong toàn bộ “hình thức cuộc sống” (bản thân việc phân biệt “thượng tầng/hạ tầng” thật ra là công việc của… thượng tầng, và, chẳng lẽ “hạ tầng” không có và nằm bên ngoài văn hóa?), thì định nghĩa về văn hóa và sứ mệnh văn hóa theo Tuyên bố UNESCO cần được hiểu và vận dung như thế nào?

MÔ HÌNH MỚI VỀ SỰ PHỒN VINH?

Mô hình “chân thắng, chân ga” có lẽ cần được đặt lại trên một cơ sở mới: văn hóa - vốn mong manh - không đủ sức chạy theo hoặc tìm cách kìm hãm kinh tế, trái lại, cần song hành với nó, và cùng biến đổi với nó. Nhưng, muốn thế, phải dùng chính sức mạnh văn hóa để đề xướng và tác động cho một “mô hình mới về sự phồn vinh”. Ernst Ulrich von Weizsäcker trong “Chính sách trái đất” (1989)8 đã thử suy nghĩ theo chiều hướng ấy. “Mô hình mới về sự phồn vinh” này dựa trên một số nhân tố cơ bản sau đây:

-    những công nghệ tiết kiệm tài nguyên (sạch, hiệu quả, sinh thái, minh bạch, chấp nhận sửa sai và phù hợp với lao động cá nhân.
-    một cuộc cách mạng mới đối với các ngành khoa học, khắc phục tư duy cơ giới và xem trọng các ngành khoa học nhân văn và tinh thần.
-    sự tự do của hoạt động con người, nghĩa là, cần một định nghĩa mới về lao động: giảm thiểu hoạt động kinh doanh đơn thuần, hướng đến lao động cá nhân thân thiện với môi trường, với sức khỏe và việc chăm sóc con người, hướng đến những hoạt động tự quyết của cá nhân, trong đó giáo dục, văn hóa, việc tham dự chính trị, tăng cường thụ hưởng nghệ thuật và nâng cao tình bạn và tính liên đới xã hội giữ vai trò quan trọng.

Như đã nói, những sáng kiến công nghệ, việc nâng cao năng suất, gia tăng tiết kiệm và cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn đến việc giảm thiểu nhu cầu lao động. Đón trước tình hình ấy, đang và sẽ có những tiền đề thuận lợi cho một định nghĩa mới về lao động: con người khẳng định được giá trị bản thân từ những phản ứng của người khác. Giá trị bản thân chỉ có khi tỏ ra hữu ích cho những người khác, với rất nhiều hình thức khác nhau, từ thiện nguyện, vô vị lợi đến được trả lương hay thù lao tương tự như hoạt động kinh doanh. Quan trọng nhất là một quan niệm mới về sự phồn vinh: không còn ở chỗ chiếm hữu nhiều tiền, mà ở chỗ có thêm nhiều thời gian và sự sáng tạo chủ động trong nội dung công việc. Nhiều người thất nghiệp đã có những trải nghiệm thú vị về việc này. Từ đó, ở các nước phát triển, người ta đang nghĩ đến những những giải pháp sáng tạo, phù hợp với tình hình ngày càng gia tăng số lượng những người “thất nghiệp”. Biến một tệ trạng thành một lợi thế, thậm chí, thành một cơ hội cho việc chuyển đổi quan niệm sống, dẫn tới sự chuyển đổi xã hội, đó là bài toán không phải không có lời giải, một khi xã hội từ bỏ quan niệm cũ, đầy thành kiến về “lao động”, “không lao động”, “sản xuất/tiêu thụ” v.v… 

Mô hình mới này cũng nhất thiết đòi hỏi một cách hiểu mới về giáo dục. Xã hội cần tạo điều kiện để người lao động có thể phát huy tài năng và sở trường bằng nhiều cách khác nhau, chứ không bó hẹp trong một cách sử dụng duy nhất và một chiều như trước nay. Theo đó, cần trang bị cho người lao động một nền tảng giáo dục cơ bản thật linh hoạt và càng rộng càng tốt, gồm tối thiểu bốn thành tố có tầm quan trọng ngang nhau:

-     các năng lực phân tích - khoa học như trước nay, nhưng nhấn mạnh đến quan hệ giữa con người với tự nhiên và đến các mối quan hệ toàn cầu;
-     nhiều năng lực thủ công để tự giúp mình và người lân cận, có sự tự tin để tự tay làm được một số công việc trước nay phải thuê mướn;
-     các năng lực sáng tạo nghệ thuật để không chỉ có khả năng tiếp thu những thành tựu văn hóa mà còn chuẩn bị tham gia vào sáng tạo văn hóa và nghệ thuật;
-     các năng lực xã hội: từ việc cảm nhận và chia sẻ những khó khăn và đau khổ của người khác, cho đến chỗ thấu hiểu những tiến trình của hoạt động nhóm, khả năng giải quyết những xung đột và tham dự tích cực vào sinh hoạt chính trị, xã hội ở nhiều cấp độ khác nhau.

Một nền tảng giáo dục cơ bản như thế cần được mở rộng và bổ sung liên tục bằng những cơ hội thuận tiện trong việc tiếp tục đào tạo và chuyên môn hóa trong một hệ thống “học suốt đời”. Với sự chuyển hướng như thế, người lao động có thể dễ dàng thay đổi các giai đoạn trong đời mình: những giai đoạn đi làm thuê và những giai đoạn tự hoạt động theo ý thích. Trước những biến động không lường trước được của xã hội hậu-công nghiệp, con người không còn bị buộc phải chấp nhận những điều kiện lao động tồi tệ với đồng lương chết đói!

Nhiều quan niệm “không tưởng” trước đây, nếu chưa thể biến ngay thành sự thật, thì cũng có thể trở thành những định hướng không phải hoàn toàn mơ mộng viễn vông, ít ra ở các nước đã phát triển cao. Ta nhớ đến Thomas Morus (1478-1535) với hy vọng vào sự rút ngắn thời gian lao động, để cho “mỗi người có nhiều thì giờ ngoài việc kiếm sống”, nhờ đó học thêm những gì theo ý thích và “dành thì giờ rỗi việc cho các ngành khoa học”9. Ta nhớ đến Tommaso Campanella (1568-1639) muốn giới hạn thời gian lao động cần thiết vào khoảng bốn tiếng đồng hồ, còn thời gian nhàn rỗi, dành cho “học tập, thảo luận, đọc sách, kể chuyện, viết, đi dạo, tập luyện thể xác và tinh thần, và vui chơi”10. Gần đây hơn là những học thuyết “không tưởng” của những Henri de Saint-Simon (1760-1825) và Charles Fourier (1772-1837), nhấn mạnh lạc thú của lao động không bị tha hóa, đến từ hoạt động sáng tạo và tự chủ của từng cá nhân.

Thế kỷ 21, biết đâu, sẽ đặt những viên đá đầu tiên cho việc vượt ra khỏi những sự đối lập quen thuộc giữa poiesis (chế tạo) và  praxis (thực hành), giữa vita activa (đời sống hoạt động) và  vita contemplativa (đời sống chiêm nghiệm), giữa homo faber (con người lao động) và  homo ludens (con người vui chơi)… “Lao động” và “không lao động” sẽ thâm nhập vào nhau về mặt cấu trúc, hay nói khác đi, “chân thắng” sẽ được… gài sẵn vào “chân ga”! Tương ứng với điều ấy, sự phê phán văn hóa đi từ phê phán chủ quan (Rousseau, Kant) sang phê phán khách quan (Marx) đến phê phán văn hóa chính trị.

MỘT NỀN VĂN HÓA ĐỀ KHÁNG!

Văn hóa như là “chân thắng”, theo một nghĩa nào đó, cần trở thành ý thức đề kháng: người lao động ngày càng nỗ lực tự làm chủ bản thân mình trước những thế lực kinh tế-tài-chính khổng lồ, trước những guồng máy quản lý và kiểm soát ngày càng tinh vi. Sự tự trị và tự quản của cá nhân như phác họa ở trên có nhiều cơ may trở thành hiện thực trong điều kiện mới của xã hội hậu-hiện đại.
Thật ra, đại đa số người trong xã hội thường có những mục tiêu khá khiêm tốn trong cuộc sống: một vốn liếng giáo dục hợp lý, một thu nhập vừa phải và ổn định, một hoạt động tự do theo ý thích, yên tâm nuôi dạy con cái, có một tuổi già mạnh khỏe và một cái chết an lành. Những mục tiêu ấy không có gì chung với một thái độ tiêu thụ vô độ cả.

Chính sự khủng hoảng trong đời sống kinh tế, chính trị - sẽ còn diễn ra không ngừng trong thế kỷ 21 - lại tạo cơ hội cho con người khôi phục được những không gian tự do và tự quyết của mình thông qua hành động đoàn kết và liên đới. Những nhóm tự nguyện, những sáng kiến công dân để giúp đỡ nhau, những hình thức liên kết của một xã hội dân sự phát triển cũng chính là “chân thắng” có giá trị thực tiễn. Về mặt kinh tế, đó cũng là một “nền kinh tế thị trường đích thực từ “bên dưới” (Hernando de Soto). Về mặt tinh thần, nó mở đường cho những hình thức mới mẻ của cuộc sống, qua đó con người sáng tạo, trải nghiệm, học hỏi và kỳ cùng, vun bồi phẩm chất văn hóa của chính mình.

Viết mừng sinh nhật lần thứ 80 của nhà văn hóa NGUYÊN NGỌC

15.07.2012

1 Mexico City Declaration on Cultural Policies (MONDIACULT), World Conference on Cultural Policies, 06.08.1982, UNESCO
2 Terry Eagleten: “Culture and Barbarism. Metaphysics in a Time of Terror”, trong: Commonweal. A review of religion, politics and culture. 27.3.2009, Vol. CXXXVI, 6, dẫn theo Josef Früchtl (tài liệu giảng dạy chưa công bố).
3 Samuel P. Hungtington: The Clash of Civilisations and the Remaking of World Order, 1996, tr. 18.
4 “Culture is the new barbarism”, Terry Eagleton, Sđd.
5 Jürgen Habermas: Theorie des Kommunikativen Handelns, 2 tập, Frankfurt/M, 1981.
6 Richard Sennett: “The Flexible Man”, 1998
7 G. Anders: Die Antiquiertheit des Menschen, tập 2, München 1980, tr. 98.
8 E. U von Weizsäcker; Erdpolitik, 1989, Darmstadt.
9 Thomas Morus, Utopia, München 1896.
10 Th. Campanella, Der Sonnenstaat, München, 1900-2008.